NGỮ VĂN 11 - VỘI VÀNG - TRƯỜNG THPT LỘC PHÁT

23:52 EDT Thứ năm, 04/06/2020
THẦY VÀ TRÒ TRƯỜNG THPT LỘC PHÁT QUYẾT TÂM HOÀN THÀNH TỐT CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM HỌC 2019-2020

XEM NGÀY GIỜ


LIÊN KẾT WEBSITE

Website Sở GD&ĐT Lâm Đồng







TRANG CHỦ » LỚP HỌC TRỰC TUYẾN » NGỮ VĂN

NGỮ VĂN 11 - VỘI VÀNG

Thứ bảy - 08/02/2020 05:37
NGỮ VĂN 11 - VỘI VÀNG
NGỮ VĂN 11 - VỘI VÀNG.
                                                                                                                                                  
Tiết : 78,79,80
 
 
A MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Cảm nhận được lòng ham sống bồng bột, mãnh liệt và quan niệm nhân sinh, thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu 
 - Thấy được sự kết hợp hài hòa giữa mạch cảm xúc dồi dào và mạch triết luận sâu sắc của bài thơ cùng những sáng tạo trong hình thức thể hiện.
I. KIẾN THỨC           
 - Niềm khát khao giao cảm với đời và quan niệm nhân sinh, thẩm mỹ mới mẻ của Xuân Diệu.
 - Đặc sắc của phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.
II. KĨ NĂNG   
        * Kĩ năng chuyên môn:
                   - Đọc – hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.           
                   - Phân tích một bài thơ mới.
                 * Kĩ năng sống :
 - Tư duy sáng tạo: phân tích, bình luận về triết lý sống, về khát vọng sống mạnh mẽ, cuồng nhiệt của hồn thơ Xuân Diệu, về hình ảnh, ngôn từ, giọng điệu của bài thơ.
- Tự nhận thức về mục đích, giá trị cuộc sống đối với mỗi cá nhân.
- Giao tiếp: cảm thông sẻ chia cùng tâm trạng của tác giả.
         III. THÁI ĐỘ        
                            Giáo dục một thái độ sống tích cực, một nhân cách sống trong sáng, yêu đời, biết cống hiến.
B. NỘI DUNG TRỌNG TÂM
I. TÌM HIỂU CHUNG
 1. Tác giả
 
- Xuân Diệu là nhà thơ “ mới nhất trong các nhà thơ mới”.Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo;                                                                         
- Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết;
- Xuân Diệu là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú.
2.Tác phẩm   
  Rút từ tập Thơ thơ (1938), là tập thơ đầu tay cũng là tập thơ khẳng định vị trí của Xuân Diệu – thi sĩ ”mới nhất trong các nhà thơ mới”.
 II.ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN  
 1. Đọc văn bản và tìm hiểu từ khó  
 2. Tìm hiểu văn bản
   2.1. Phần đầu : Niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian và nêu những lí lẽ vì sao phải sống vội vàng. Xuất phát từ nhận thức và quan niệm về hạnh phúc trần gian, thời gian và tuổi trẻ, nhà thơ muốn bộc bạch với mọi người và cuộc đời.  
2.1.1 Mười ba câu thơ đầu: Tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết
a/Bốn câu thơ đầu
 - Niềm ước muốn kì lạ, vô lí: “tắt nắng”, “buộc gió”.
" Mục đích: Giữ lại sắc màu và hương vị.
" Thực chất: Xuân Diệu sợ thời gian trôi chảy nên muốn níu kéo thời gian, muốn mãi mãi được tận hưởng hương vị và sắc màu của cuộc sống. Ước muốn thật táo bạo.
"Thể thơ năm chữ: ngắn gọn, dứt khoát như lời khẳng định.
" Điệp ngữ: “Tôi muốn” " Cái tôi cá nhân bộc lộ một cách trực tiếp và chân thành niềm khát khao giao cảm và lòng yêu cuộc sống thiết tha.
 b/ Chín câu tiếp theo: Cảm nhận của nhà thơ về vẻ đẹp của cuộc sống:  
+ Hình ảnh đẹp đẽ, tươi non, trẻ trung: “ong bướm … tuần tháng mật, hoa …đồng nội, lá …cành tơ, yến anh …khúc tình si, ánh sáng chớp hàng mi, thần Vui gõ cửa, 
ðCảnh vật quen thuộc của cuộc sống, của thiên nhiên qua con mắt yêu đời của nhà thơ đã biến thành chốn thiên đường, thần tiên căng tràn sức sống.
" Điệp từ : “này đây, của” khiến câu thơ có vẻ hơi Tây, mới lạ so với câu thơ truyền thống.
"Nhịp thơ nhanh, gấp thể hiện sự ngạc nhiên, vui mừng, hân hoan.
ð+ Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được Xuân Diệu gợi lên vừa gần gũi, thân quen vừa quyến rũ, đầy  tình tứ. Nhà thơ đã phát hiện và say sưa ca ngợi một thiên đường ngay trên mặt đất với bao nguồn hạnh phúc kì thú và qua đó thể hiện một quan niệm mới: trong thế giới này đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, đắm say, ngây ngất.
   + Xuân Diệu đã nhìn thiên nhiên qua lăng kính của tình yêu, qua cặp mắt của tuổi trẻ. Nhờ vậy mà cảnh vật thiên nhiên đều nhuốm màu tình tứ, tràn ngập xuân tình.
   + So sánh cuộc sống thiên nhiên như người đang yêu, như tình yêu đôi lứa đắm say, tràn trề hạnh phúc: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần → So sánh mới mẻ, độc đáo và táo bạo: lấy con người làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp trên thế gian – điều mà trong thơ cổ điển chưa có được. Nét mới mẻ và độc đáo của Xuân Diệu là ở chỗ: Xuân Diệu đã lấy con người làm chuẩn mực của cái đẹp để so sánh với thiên nhiên.
 - Tâm trạng: Sung sướng nhưng vội vàng – không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
" Tâm trạng mâu thuẫn: vừa sung sướng, thỏa nguyện vừa vội vàng, cuống quýt, lo sợ thời gian sẽ qua đi.
ð Đó là tâm trạng của một tình yêu cuộc sống sôi nổi, thiết tha.
2.1.2.Mười sáu câu tiếp theo: Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi, mong manh của kiếp người trong sự chảy trôi nhanh chóng của thời gian.       
- Xuân đương tới – xuân đương qua       
  Xuân còn non – xuân sẽ già          
" Quan niệm về thời gian tuyến tính, một đi không trở lại.
" Xuân Diệu có quan niệm mới, cách cảm nhận mới về thời gian.
  - Xuân hết – tôi cũng mất
Lòng tôi rộng – trời chật
… xuân tuần hoàn – tuổi trẻ chẳng hai lần thăm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi
" Đọan thơ thể hiện niềm tiếc nuối về sự ngắn ngủi của tuổi trẻ, sự hữu hạn của đời người. Với Xuân Diệu thì tuổi trẻ là quãng thời gian quí giá nhất, đẹp nhất của đời người. Vì thế tuổi trẻ hãy sống đẹp, sống mãnh liệt, sống hết mình cho cuộc đời.
" Cảm nhận đầy bi kịch về sự sống, mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, phai tàn, phôi pha, mòn héo: “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi – Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt …”
" Cuộc sống trần gian đẹp như một thiên đường ; trong khi đó, thời gian một đi không trở lại, đời người ngắn ngủi – nên chỉ còn một cách là phải sống vội.
ð Cách cảm nhận thời gian của Xuân Diệu là do sự thức tỉnh sâu sắc về “cái tôi” cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời, nâng niu, trân trọng từng giây, từng phút của cuộc đời, nhất là những năm tháng tuổi trẻ.
 2.2.Phần hai (mười câu thơ cuối) nêu cách “thực hành”: Vội vàng là chạy đua với thời gian, sống mạnh mẽ, đủ đầy với từng phút giây của sự sống – “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn ; Sống toàn thân và thức nhọn giác quan” thể hiện sự mãnh liệt của cái tôi đầy ham muốn 
 - Khát khao:   ôm – sự sống       
                        riết – mây bay, gió lượn
                        say- cánh bướm với tình yêu
                        thâu – hôn nhiều
để thỏa mãn: Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
                    Cho no nê thanh sắc của thời tươi.
ð Niềm khát khao sống sôi nổi, mãnh liệt của Xuân Diệu và cũng là của thanh niên, của tuổi trẻ. 
 - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi ð Câu thơ kết thúc bài thơ và cũng là lời kết cho tình yêu tha thiết và niềm khát khao sống mãnh liệt của nhà thơ. Câu thơ cho thấy, Xuân Diệu không chỉ mới ở cách dùng ngôn từ mà còn mới trong cách nghĩ, cách sống và cách thể hiện mình.
_ Nhận thức về bi kịch của sự sống đã dẫn đến một ứng xử rất tích cực trước cuộc đời. Đây cũng là lời đáp trọn vẹn cho câu hỏi : Vội vàng là gì? Và đề xuất một lẽ sống mới mẻ, tích cực ; bộc lộ quan niệm mới chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống. 
3. Tổng kết   
 * Nghệ thuật   
   - Sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí.
   - Cách nhìn, cách cảm mới và những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ.
   - Sử dụng ngôn từ ; nhịp điệu dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.
 * Ý nghĩa văn bản  
    Quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mỹ mới mẻ của Xuân Diệu – nghệ sĩ của niềm khát khao giao cảm với đời.
C.BÀI TẬP CỦNG CỐ/VẬN DỤNG
CÂU HỎI CỦNG CỐ BÀI  HỌC
Câu 1. Bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu được in trong:
a. Gửi hương cho gió                  b. Thơ thơ
c. Phấn thông vàng                     d. Trường ca
Câu 2. Điệp ngữ “này đây” được sử dụng mấy lần ở đầu và ở giữa các dòng thơ trong đoạn từ dòng thứ 5 đến dòng thứ 11( Vội vàng – Xuân Diệu):
a. 6
b. 5
c. 4
d. 3
Câu 3. Trong bài thơ Vội vàng, Xuân Diệu đã thể hiện tình yêu tha thiết với:
a. Cuộc sống trong văn chương             b. Cuộc sống trần thế
c. Cuộc sống nơi tiên giới                       d. Cuộc sống trong mơ ước
Câu 4. Cái hay của phép so sánh “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” là:
a. So sánh vẻ đẹp của thiên nhiên với vẻ đẹp của con người bằng một hình ảnh rất đời thường, gắn với cảm nhận về một tình yêu trẻ trung, cuồng nhiệt, nồng nàn.
b. So sánh vẻ đẹp của thiên nhiên với vẻ đẹp của con người bằng một hình ảnh độc đáo
c. So sánh vẻ đẹp của thiên nhiên với vẻ đẹp của con người bằng một hình ảnh mới lạ
d. So sánh vẻ đẹp của thiên nhiên với vẻ đẹp của con người bằng một hình ảnh rất quen thuộc
Câu 5. Vì sao nhân vật trữ tình “tôi” chỉ sung sướng “một nửa” và vội vàng “một nửa”?
a. Vì đời người ngắn ngủi
b. Vì niềm vui và cơ hội tận hưởng niềm vui quá hữu hạn
c. Vì mùa xuân, tuổi trẻ không còn mãi
d. Vì tất cả những gì tươi đẹp, kì thú sẽ mau chóng tàn phai
BÀI TẬP VẬN DỤNG
Học sinh thực hiện các yêu cầu sau:
I.Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
                         ....Của ong bướm này đây tuần tháng mật
                          Này đây hoa của đồng nội xanh rì
                          Này đây lá của cành tơ phơ phất
                         Của yến anh này đây khúc tình si
                         Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
                         Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
                         Tháng giêng ngon như một cặp môi gần….
                                                            (Vội vàng - Xuân Diệu)
    Câu 1: Xác định nội dung của đoạn thơ trên.
    Câu 2: Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên .
    Câu 3: Phương thức biểu đạt của đoạn thơ?
    Câu 4: Viết đoạn văn ngắn (khoảng 100 chữ) trình bày cảm nhận của em về tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu được thể hiện trong đoạn thơ trên.
II. Vẽ sơ đồ tư duy bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
* Lưu ý:
 Học sinh vẽ tranh trên khổ giấy roki ghi đầy đủ tên, lớp
 Làm bài dưới dạng viết tay hoặc đánh máy. Học sinh gửi bài làm qua địa chỉ mail hoặc chụp hình gửi qua zalo, Messenger của GVBM từng lớp ( cô Hạnh hanhxu27@gmail.com  cô Lan ngoclanlp3@gmail.com cô Màu maimaisp7195@gmail.com )
(Kết quả bài làm được tính điểm hệ số 1 – điểm Miệng.
Hạn chót nộp bài trước ngày15/2/2020)

Nguồn tin: Nhóm Ngữ Văn

Từ khóa tìm kiếm: ngữ văn

TIN MỚI CẬP NHẬT

TIN BÀI LIÊN QUAN