Để làm bài thi tốt môn Văn trong kỳ thi THPT Quốc Gia. - TRƯỜNG THPT LỘC PHÁT

05:45 ICT Thứ hai, 23/09/2019
THẦY VÀ TRÒ TRƯỜNG THPT LỘC PHÁT QUYẾT TÂM HOÀN THÀNH TỐT CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM HỌC 2019-2020

TRANG CHỦ » Tin Tức - Sự Kiện » TỔ CHUYÊN MÔN » NGỮ VĂN

Để làm bài thi tốt môn Văn trong kỳ thi THPT Quốc Gia.

Thứ tư - 08/04/2015 09:40
Để làm bài thi tốt môn Văn trong kỳ thi THPT Quốc Gia.
Cô Nguyễn Thị Bảo Thu chi sẻ đến các em học sinh khối 12 một số kinh nghiệm làm bài thi tốt môn Văn trong kỳ thi THPT Quốc Gia.
ĐỂ LÀM TỐT BÀI THI MÔN VĂN TRONG KỲ THI THPT QUỐC GIA

Đề thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia 2015 tương tự đề thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2014. Nội dung đề thi nằm trong chương trình THPT, chủ yếu lớp 12. Đề thi đảm bảo phân hoá trình độ thí sinh và phải đạt được 2 mục đích là xét công nhận tốt nghiệp THPT và làm căn cứ tuyển sinh vào ĐH, CĐ. Vì vậy, đề thi gồm các câu hỏi từ dễ đến khó, vừa đáp ứng yêu cầu cơ bản (thí sinh chỉ cần trả lời được các câu hỏi này là đã đủ điều kiện để tốt nghiệp THPT) và yêu cầu nâng cao (để phân hoá thí sinh, phục vụ công tác tuyển sinh ĐH, CĐ).

Có thể nói, cách ra đề thi những năm gần đây, nhất là đề thi các môn Khoa học Xã hội và Nhân văn có nhiều cải tiến, đổi mới, đi theo hướng mở để tạo điều kiện cho học sinh huy động kiến thức tổng hợp, liên môn và vốn sống của mình vào việc làm bài (chẳng hạn, trong đề thi Ngữ văn có kiến thức về Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân…); khắc phục tình trạng học sinh phải học thuộc một cách máy móc, được giới chuyên môn, thầy cô giáo, học sinh và dư luận xã hội đánh giá cao.

Theo tinh thần đó, đề thi môn Ngữ văn năm nay tiếp tục cũng sẽ có hai phần: đọc – hiểu và làm văn.

I. PHẦN ĐỌC – HIỂU

Đề đọc hiểu có thể lấy văn bản từ chương trình SGK, hoặc các văn bản ngoài chương trình  nhằm kiểm tra kiến thức về từ ngữ, câu, bố cục trình bày; yêu cầu tóm tắt ý chính của một đoạn văn cho trước; chỉ ra các biện pháp nghệ thuật đặc sắc và tác dụng của biện pháp đó, phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt…  trong một đoạn văn, thơ, văn bản cho sẵn. 

Ví dụ: Một số đề đọc hiểu tham khảo

Đề 1

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Ngày xưa có một em bé gái đi tìm thuốc chữa bệnh cho mẹ. Em được Phật trao cho một bông cúc. Sau khi dặn em cách làm thuốc cho mẹ, Phật nói thêm: “Hoa cúc có bao nhiêu cánh, người mẹ sẽ sống thêm bấy nhiêu năm”. Vì muốn mẹ sống thật lâu, cô bé dừng lại bên đường tước cánh hoa ra thành nhiều cánh nhỏ. Từ đó hoa cúc có rất nhiều cánh…Ngày nay cúc vẫn được dùng để chữa bệnh. Tên y học của cúc là Liêu chi.

(Theo Almanach người mẹ và phái đẹp, NXBVăn hoá – Thông tin, 1990)

1.Đoạn văn giải thích điều gì?

2.Hãy đặt tiêu đề cho đoạn văn.

3. Đoạn văn sử dụng phương thức biểu đạt nào là chính?

4. Đoạn văn trên có câu chủ đề hay không?

5. Thông điệp mà tác giả muốn nhắn gửi trong đoạn văn trên là gì?

Đề 2

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

Đò lên Thạch Hãn ơi…chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.

(Lê Bá Dương, Lời người bên sông. )

1. Xác định phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ và cho biết đâu là phương thức biểu đạt chủ yếu nhất.

2. Hãy chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu: Có tuổi hai mươi thành sóng nước/Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm .

3. Tác giả thể hiện những tâm tư tình cảm gì khi đứng trước dòng sông Thạch Hãn?

4. Ghi lại những câu thơ trong chương trình Ngữ văn THPT cũng có nội dung ngợi ca sự hi sinh cao đẹp của những nguồi lính trẻ.

Đề 3

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi

... Bao giờ cho tới mùa thu

trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm

bao giờ cho tới tháng năm

mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao


Ngân hà chảy ngược lên cao

quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm

bờ ao đom đóm chập chờn

trong leo lẻo những vui buồn xa xôi


Mẹ ru cái lẽ ở đời

sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn

bà ru mẹ, mẹ ru con

liệu mai sau các con còn nhớ chăng

(Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa - Theo Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2010)


Câu 1.Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.

Câu 2.Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng  đầu của  đoạn thơ trên

Câu 3.Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên.

Câu 4.Anh/chịhãy nhận xét quan niệm của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: Mẹ ru cái lẽ ở đời – sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn. Trả  lời trong khoảng 5-7 dòng.


II. PHẦN LÀM VĂN

Phần kiểm tra năng lực viết sẽ đưa ra hai yêu cầu, một câu là viết bài nghị luận xã hội, một câu là viết nghị luận văn học.

1. câu 1: Nghị luận xã hôi

Ở câu nghị luận xã hội, câu hỏi và đáp án có tính chất  mở, có tính chất tích hợp các kiến thức lịch sử, địa lý, đạo đức, văn hoá. 

Ví dụ: Một số đề nghị luận xã hội tham khảo

Đề 1

“Không có công việc nào là nhỏ nhoi hay thấp kém, mà chỉ có người không tìm thấy ý nghĩa trong công việc của mình mà thôi.”

           (Nhiều tác giả, Hạt giống tâm hồn, Tập 1, NXB Tổng hợp TP HCM, 2013)

Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩcủa anh/chịvềý kiến trên.


Đề 2

Ta hãy học theo cách của dòng sông nhìn thấy núi thì đi đường vòng” hay

“ Trong rừng có rất nhiều lối đi, ta chọn lối đi chưa có dấu chân người.”

Ý kiến của anh/ chị.

Đề 3

“Một người hạnh phúc, không nhất thiết phải là người có mọi thứ tốt nhất, mà là người biết tận hưởng và chuyển biến những gì đang xảy đến với mình trong cuộc sống một cách tốt nhất.

Hạnh phúc chỉ đến với những ai biết rơi lệ khi tổn thương, biết đau đớn khi mất mát, biết khát khao và nuôi dưỡng những giấc mơ, biết cố gắng làm lại khi thất bại, bởi vì chỉ có như vậy, mọi người mới biết trân trọng những gì đã và đang đến trong cuộc đời mình.”

(Theo Hạt giống tâm hồn, tập 3, NXB Tổng hợp  Thành phố Hồ Chí Minh, 2013)

Từ đoạn văn trên, anh/ chị hãy trình bày quan niệm của mình về hạnh phúc.

ĐỀ 4

“ Những ngón chân của bố khum khum, lúc nào cũng như bám vào đất để khỏi trơn ngã. Người ta nói “Đấy là bàn chân vất vả”. Gan bàn chân bao giờ cũng xám xịt và lỗ rỗ, bao giờ cũng khuyết một miếng, không đầy đặn  như gan bàn chân người khác. Mu bàn chân mốc trắng, bong da từng bãi, lại có nốt lấm tấm. Đêm nào bố cũng ngâm nước nóng hoà muối, gãi lấy gãi để rồi xỏ vào đôi guốc mộc. Khi ngủ bố rên, rên vì đau mình, nhưng cũng rên vì nhức chân. Rượu tê thấp không tài nào xoa bóp khỏi.

Bố đi chân đất. Bố đi ngang dọc đông tây đâu đâu con cũng hiểu. Con chỉ thấy ngày nào bố cũng ngâm chân xuống nước, xuống bùn để quăng câu. Bố tất bật đi từ  khi sương còn đẫm ngọn cây ngọn cỏ. Khi bố về cũng là lúc cây cỏ đẫm sương đêm. Cái thùng câu bao lần chà đi xát lại bằng sắn thuyền. Cái ống câu nhẵn mòn, cái cần câu bóng dấu tay cầm… Con chỉ biết cái hòm đồ nghề cắt tóc sực mùi dầu máy tra tông – đơ, cái ghế xép bao lần thay vải, nó theo bố đi xa lắm.

Bố ơi! Bố chữa làm sao được lành lặn đôi bàn chân ấy: đôi bàn chân dầm sương dãi nắng đã thành bệnh.”

(Theo Duy Khán, Tuổi thơ im lặng)

Dựa vào đoạn văn trên, anh/ chị hãy viết một bài văn với chủ đề: Bố tôi.


2. câu 2: Nghị luận Văn học

Câu nghị luận văn học thì đáp ứng yêu cầu phân hoá cao, hướng tới tuyển sinh ĐH. Đề yêu cầu vận dụng sáng tạo những hiểu biết về kiến thức, kỹ năng văn học để thực hành, phân tích, đánh giá, bình luận, bác bỏ một vấn đề văn học, một văn bản, trích đoạn. 


Ví dụ: Một số đề nghị luận văn học tham khảo

Đề 1

Tuỳ bút Sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn xa xôi của Tổ quốc, nơi ông đã khám phá ra chất vàng của thiên nhiên cùng “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm hồn của những người lao động.

Anh/ chị hãy làm rõ “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở nhân vật người lái đò trong tuỳ bút  “ Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân.

Đề 2

Đọc truyện ngắn “ Vợ nhặt”(Kim Lân), nhà giáo Đỗ Kim Hồi nhận xét: “Cuộc đời éo le và nhân hậu làm sao dưới ngòi bút Kim Lân”.

Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về nhận xét này.


Đề 3


Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp riêng của hai đoạn thơ sau:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớdáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũhoa đong đưa

(Tây Tiến- Quang Dũng, Ngữvăn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

 

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

(Việt Bắc - TốHữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

Đề 4

Cảm nhận của anh/ chị về những vẻ đẹp của nhân vật người “Vợ nhặt” trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân và nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.

Đề 5

Vẻ đẹp khuất lấp sau những nét thô ráp bên ngoài của người phụ nữ trong hai tác phẩm: “Chí Phèo” của Nam Cao và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.


III. PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI VĂN ĐỂ ĐẠT ĐIỂM CAO

1.Đọc đề: Dành 5 phút đọc đề, gạch dưới những từ ngữ quan trọng trong đề để định hướng làm bài cho đúng, tránh mất điểm.

2.Phân chia thời gian:  Phân thời gian làm bài hợp lý cho từng câu – ứng với mức điểm.

Ví dụ:

Phần đọc hiểu 2 điểm dành 20 đến 25 phút/ 180 phút; nếu đọc hiểu có 2 phần và số điểm là 3 dành thời gian từ 35 đến 40 phút/ 180 phút.

Phần làm văn nghị luận xã hội: 3đ thời gian làm bài khoảng 60 đến 70 phút/ 180 phút.

Phần làm văn nghị luận văn học : 4đ thời gian làm bài khoảng 80 đến 90 phút/ 180 phút.

3. Một số lưu ý khi trả lời câu hỏi:

3.1 Phần đọc hiểu

+Trả lời đọc hiểu: ghi đầy đủ yêu cầu trả lời, chẳng hạn đề hỏi:  Đoạn văn sử dụng phương thức biểu đạt nào là chính? Khi trả lời phải lưu ý viết  nguyên câu văn phương thức biểu đạt chính là (Tự sự, miêu tả, biểu cảm…); hỏi biện pháp tu từ thì khi trả lời ghi tên biện pháp và đồng thời chỉ rõ biện pháp ấy trong câu thơ hoặc câu văn nào…

+Viết 5-7 câu: yêu cầu phải viết thành đoạn văn, về hình thức thụt vô đầu dòng, viết hoa chữ cái đầu tiên, sau đó viết 5 -7 dòng. Cuối đoạn có dấu chấm xuống dòng hay chấm qua hàng. Nội dung của đoạn văn  theo yệu cầu của đề ra.

3.2 Phần làm văn

3.2.1 Nghị luận xã hội:

Viết thành bài tập làm văn có đủ 3 phần mở bài (MB), thân bài (TB) , kết bài (KB); Yêu cầu thân bài phải viết thành nhiều đoạn. (Tuỳ thuộc vào dạng đề, chẳng hạn nghị luận về tư tưởng đạo lí thân bài có cấu trúc 4 đoạn: Giải thích ngắn , phân tích- chứng minh, bình luận - bàn bạc, bài học nhận thức; nghị luận về hiện tượng đời sống thì thân bài có cấu trúc 3 đoạn:  Giải thích ngắn , phân tích- chứng minh để làm rõ thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và đoạn cuối là giải pháp)…khi chấm người ta quy định điểm về hình thức của bài Tập làm văn như sau:

+ 0,5 đ/ 3 đ nếu làm đủ 3 phần MB, TB, KB và  thân bài có nhiều đoạn.

+ 0,25đ/3 đ nếu bài làm văn đủ 3 phần MB, TB, KB, nhưng thân bài chỉ có một đoạn dù không thiếu yêu cầu của bài văn nghị luận.

3.2.2 Nghị luận văn học:

Viết thành bài tập làm văn có đủ 3 phần MB, TB, KB. Tuỳ đề để viết thân bài thành bao nhiêu đoạn. Chẳng hạn dạng đề có 2 tác phẩm trong thân bài – dạng đề so sánh cũng có quy định riêng khi viết,  thân bài cần viết  ít nhất 3 đoạn. Trước tiên là đoạn giới thiệu chung, tiếp theo là phân tích từng đoạn, đoạn nào đưa trước thì phân tích trước và cuối cùng so sánh chỉ ra nét tương đồng và khác biệt.

Tóm lại

Cách ra đề thi theo hướng mở và tích hợp như thế, có nhiều cái lợi: chống được tình trạng học tủ, học vẹt, học thuộc lòng, lạm dụng sách văn mẫu; đánh giá được năng lực học sinh, phát huy tốt khả năng thông hiểu, vận dụng, kể cả năng lực phân tích, đánh giá, sáng tạo ở người học. Thực ra, thì phần đọc- hiểu, phần nghị luận xã hội từ lâu đã thể hiện khá “ đông đặc” trong chương trình, sách giáo khoa mà đối với đại bộ phận giáo viên môn ngữ văn không hề xa lạ về nó. Hơn nữa, đề kiểm tra, đề thi môn văn các năm gần đây học sinh và giáo viên đã quá quen với kiểu đề mở, đề tích hợp, đề xã hội rồi.

Đối với người thầy, càng dạy, mới thấy dạy dạng đề mở, kết hợp giữa văn học và xã hội, đề về xã hội, đời sống,  ngoài sách giáo khoa khó hơn dạng đề văn học, mang tính khuôn mẫu trước đây. Văn bản, nghị luận văn học, mọi cái gần như có sẵn trong sách, giáo án hết. Còn dạng đề mở, đề kết hợp, nghị luận xã hội lại mông lung, mỗi đề có yêu cầu riêng, dường như không có mẫu số chung. 

Trước yêu cầu đổi mới của đề văn, học sinh cần có kiến thức tổng hợp, nắm những  yêu cầu theo chuẩn kiến thức kĩ năng từ chương trình học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Với môn Ngữ văn cần có kiến thức tổng hợp của 3 phân môn: Tiếng việt, Làm văn và Đọc văn.Chúc các em thật bình tĩnh, tự tin và đạt kết quả tốt trong kì thi tốt nghiệp THPT Quốc gia sắp tới!

Cô giáo Nguyễn Thị Bảo Thu – Trường THPT Lộc Phát, TP.Bảo Lộc, Lâm Đồng

 
Từ khóa tìm kiếm: thu chi, học sinh, kinh nghiệm
chiến surry - 10/10/2016 16:22
ai júp e đề 1 vs huhu
NGUYỄN THỊ BẢO THU - 28/08/2015 10:59
ĐỀ 3 Phần Đọc -Hiểu có thể trả lời như sau:
Câu 1: Phương thức biểu cảm
Câu 2: + Lặp cấu trúc cú pháp ở hai dòng thơ:
"Bao giờ cho tới mùa thu" và
"bao giờ cho tới tháng năm"

+Nhân hóa trong câu: "trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm"

Câu 3: Thể hiện hồi tưởng của tác giả về thời thơ ấu bên mẹ. Thấy công lao của mẹ, ý nghĩa lời ru của mẹ và nhắn nhủ thế hệ sau phải ghi nhớ công lao ấy.
Câu 4: + Lời ru của mẹ chứa nhiều điều hay, lẽ phải, những bài học về cách ứng xử, cách sống đẹp ở đời.
+ Đó là ơn nghĩa, tình cảm, là công lao to lớn của mẹ...
lan nguyen - 22/08/2015 13:40
cô ơi k có gợi ý làm bài hả cô
Thùy Na - 29/07/2015 21:34
Cho em hỏi chỗ đề 3 của phần đọc hiểu giải như thế nào là chính xác nhất ạ?
Xin cho em cái ý kiến để làm Câu 4 của đề đó sớm nhất có thể được không ạ!
ksor Hương - 28/06/2015 10:43
Hay lắm.. Cảm ơn cô !!!
1, 2  Trang sau
Comment addGỬI Ý KIẾN CỦA BẠN
Mã chống spamThay mới

TIN MỚI CẬP NHẬT

TIN BÀI LIÊN QUAN

 

DANH NGÔN GIÁO DỤC

Con trai không dạy, lớn lên thành người ngu ngốc, ương gàn; con gái không dạy lớn lên thành người lố lăng, thô bỉ. (THÁI CÔNG)

LỚP HỌC TRỰC TUYẾN


WE ARE ON FACEBOOK

THÔNG BÁO LỚP 10 (2017-2018)

DANH SÁCH LỚP 10 VÀ THÔNG BÁO NHẬP HỌC
Bí mật những ký tự code vé máy bay bạn cần biết

Bí mật những ký tự code vé máy bay bạn cần biết

Ít người biết rằng trên vé máy bay ngoài những thông tin cơ bản như họ tên, chỗ ngồi… còn có 1 đoạn code có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có thể mang đến may mắn cũng như “rủi ro” cho hành khách trên chuyến bay.

Xem chi tiết...